Chủ Nhật, 26 tháng 6, 2011

Chế độ cộng sản sẽ còn kéo dài tới bao giờ?

Nguyễn Gia Kiểng
-
Không phải chỉ những người đối lập mà ngay các trí thức có danh phận hàng đầu của chế độ họp để góp ý cho đại hội đảng cũng khẳng định từ Đại Hội XI, Đảng và chế độ cộng sản sẽ bắt đầu giai đoạn sụp đổ. Đại Hội XI của Đảng Cộng Sàn Việt Nam vừa qua đã xác nhận điều đó.
Nhưng cương lĩnh năm 1991 là gì? Đó là quyết định của Đại Hội 7 chặn đứng đà đổi mới chính trị khởi đầu từ Đại Hội 6 cuối năm 1986 để cầu hòa với Trung Quốc và rập khuôn theo Trung Quốc với hy vọng có thể cố thủ và tồn tại. Nhưng làm sao có thể tiếp tục một chính sách đã được quyết định cách đây 20 năm trong một thế giới thay đổi dồn dập hàng ngày? Không một chính đảng nào trên thế giới, dù là đảng cầm quyền hay đảng đối lập, có thể tuyên bố như thế mà không sợ biến thành trò cười, Đảng Cộng Sản Việt Nam đúng là một ngoại lệ.
Đồng thuận duy nhất của đại hội, và được nhắc lại trong mọi phát biểu, là phẩm chất cán bộ của đảng đã sa sút nghiêm trọng. Trong một tình trạng như vậy dĩ nhiên vấn đề nhân sự lãnh đạo không thể giải quyết. Việc chỉ định Tổng Bí Thư và Bộ Chính Trị vừa qua không phải là giải đáp mà chỉ chứng tỏ sự thiếu vắng giải đáp, hay tệ hơn nữa một bế tắc không lối thoát. Liên minh Đỗ Mười – Lê Đức Anh, đã bảo đảm sự ổn định chính trị trong đảng trong hai thập niên qua, không còn nữa. Hai ông này đã chia rẽ nhau và đều đã bất lực. Ông Lê Đức Anh không đưa được ông Nguyễn Tấn Dũng vào chức Tổng Bí Thư, cũng như ông Đỗ Mười không áp đặt được ông Trương Tấn Sang, và cả hai ông đều không ngăn cản được ông Nguyễn Phú Trọng.
Nguyễn Phú Trọng
một Tổng Bí Thư hình thức
bởi vì không ai đủ hậu thuẫn
và uy tín để giữ chức vụ này
Nhưng không phải vì thế mà ông Trọng trở thành người lãnh đạo thực sự của đảng, ông là người có số phiếu thấp trong số những người được bầu vào Bộ Chính Trị và chỉ là một Tổng Bí Thư hình thức bởi vì không ai đủ hậu thuẫn và uy tín để giữ chức vụ này. Thực ra ĐCSVN không có Tổng Bí Thư. Mặc dù nó vẫn tiếp tục đàn áp thô bạo chế độ cộng sản chỉ còn là một hư cấu và sẽ không thể thích nghi với trật tự thế giới hậu khủng hoảng đang hình thành. Nó thiếu cả ý kiến và lẫn lãnh đạo. Nó không có ý kiến vì nó không thể có ý kiến, vì mọi ý kiến đúng đắn đều dẫn tới kết luận hiển nhiên là chế độ này vô lý và phải chấm dứt. Nó không thể có những người lãnh đạo đúng nghĩa vì bộ máy sàng lọc của nó đã loại bỏ hết những con người có trí tuệ và đạo đức.
Tình trạng xuống cấp của ĐCSVN là hậu quả tự nhiên của chính sách mở cửa kinh tế. Một chế độ độc tài mở cửa về kinh tế bắt buộc phải bị đào thải. Đào thải sớm hay muộn và nhường chỗ cho cái gì là một câu hỏi khác nhưng bắt buộc phải bị đào thải. Tại sao? Bởi vì nó áp đặt lên một xã hội ngày càng có sức mạnh và được thông tin đầy đủ những chịu đựng ngày càng không thể chấp nhận. Mất tự do thực ra đồng nghĩa với mất phẩm giá và tư cách con người, đó là những điều mà người ta chỉ có thể quên đi trong một hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực. Chế độ độc tài áp đặt sự nhục nhằn đó nhân danh mục tiêu phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp chỉ có nghĩa là ra khỏi tình trạng nghèo khổ mà chính nó là nguyên nhân. Vì thế nó phải bị đào thải dù thành công hay thất bại trong mục tiêu này. Nếu thất bại nó không có lý do gì để tiếp tục tồn tại, nếu thành công nó đã làm xong sứ mệnh và cũng phải chấm dứt vì xã hội đã thay đổi trong quá trình mở cửa. Kinh tế càng tăng trưởng, cuộc sống càng thoải mái hơn thì sự tước đoạt tự do càng khó chấp nhận; những nhu cầu vật chất ngày càng nhường chỗ đứng ưu tiên cho những đòi hỏi tinh thần, con người càng bớt lệ thuộc vào chính quyền và càng có khả năng đòi hỏi hơn. Họ cũng được thông tin đầy đủ hơn để nhận ra sự tầm thường của những người cầm quyền. Người ta cũng ngày càng rời nông thôn về thành thị, mội trường tự nhiên của dân chủ. Chính sách mở của kinh tế đã được thực hiện từ gần ba mươi năm rồi, trong hầu hết mọi quốc gia thời gian đó đủ để chế độ độc tài bị đào thải nhường chỗ cho một chế độ dân chủ. Tuy vậy, theo một nghiên cứu của tổ chức Freedom House, mà chúng ta chỉ có thể đồng ý, Việt Nam đã không hề có tiến bộ nào đáng kể về mặt dân chủ trong hai mươi năm qua. Chúng ta quả là một ngoại lệ, và một ngoại lệ đáng buồn. Tại sao?
Cần gạt ngay một lập luận hoàn toàn sai theo đó Việt Nam chưa có dân chủ vì dân trí Việt Nam kém. Tất cả các nước dân chủ đều đã có dân chủ vào lúc dân trí của họ còn rất thấp so với Việt Nam hiện nay. Mỹ và các nước Châu Âu đã thiết lập chế độ dân chủ vào lúc mà đa số dân chúng là những nông dân không biết đọc biết viết, chưa có radio, tivi, điện thoại di động, internet, cũng chưa có ngay cả xe đạp, xe máy. Dân chủ là một bước tiến trí tuệ do các trí thức đề xướng và thiết lập. Các nước dân chủ đã có dân chủ nhờ có được một đội ngũ trí thức xứng đáng. Thay vì biện luận một cách xúc phạm là dân trí Việt Nam thấp, trí thức Việt Nam nên lương thiện nhìn nhận là chính mình kém. Trí thức Việt Nam quả là một ngoại lệ. Và một ngoại lệ lớn đến nỗi cần phải đặt lại câu hỏi chúng ta có những trí thức đúng nghĩa hay không.
Suy nghĩ độc lập,
bằng cái đầu của chính mình,
không phải là sở trường
của trí thức Việt Nam
Người trí thức dĩ nhiên cần có một vốn liếng hiểu biết nào đó, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn nhiều là người trí thức phải biết tự đặt cho mình những vấn đề và tự tìm giải đáp của mình cho những vấn đề đó. Bộ nhớ của một máy vi tính có thể chứa đựng rất nhiều kiến thức và lý luận cao siêu nhưng không phải vì thế mà chiếc máy vi tính là một trí thức. Cái không bình thường của đa số trí thức Việt Nam là chỉ học để có kiến thức, trong nhiều trường hợp chỉ là để được coi là có kiến thức qua bằng cấp, và để lặp lại những lý luận có sẵn, với mục đích là để có được một địa vị trong xã hội. Suy nghĩ độc lập, bằng cái đầu của chính mình, không phải là sở trường của trí thức Việt Nam. Nhưng nói rằng trí thức Việt Nam chỉ có kiến thức chứ không biết suy nghĩ cũng không đúng hẳn. Có ít nhất một lãnh vực mà trí thức Việt Nam hầu như không biết gì mà còn có những thành kiến rất sai, đó là chính trị, tư tưởng chính trị cũng như đấu tranh chính trị. Không phải là vì chính trị khó mà là vì trí thức Việt Nam không chịu học hỏi. Sự từ chối học hỏi này có nguyên nhân từ di sản văn hóa và lịch sử. Trong suốt dòng lịch sử kẻ sĩ, rồi trí thức, coi học là cốt để làm quan hay để có được một địa vị trong xã hội, nói cách khác để làm dụng cụ cho một quyền lực sẵn có chứ không phải để thay đổi xã hội. Trong cách học này không có chỗ cho chính trị, bộ môn có mục đích phê phán và thay đổi chính quyền. Trong cách học này người ta chỉ cần nhắc lại một cách thật đúng những gì được coi là chính thống. Thêm vào đó trí thức Việt Nam lại còn là sản phẩm của một hệ thống giáo dục và đào tạo trong đó nhưng người thi đậu những khóa thi thơ phú được bổ nhiệm làm quan cai trị dù tuyệt đối không biết gì về chính trị. Hệ thống này để lại một di sản mà có lẽ chỉ có trí thức Việt Nam và Trung Quốc không thấy là kỳ cục, đó là tưởng rằng có thể làm chính trị mà không cần học học chính trị. Sự kiện ngày nay nhiều người có bằng thạc sĩ kinh doanh – hay nha sĩ hay cử nhân hóa học – tự cho là có thẩm quyền để nói về chính trị, thậm chí có thể làm bộ trưởng, là một tiếp nối tự nhiên của truyền thống bổ nhiệm những cử nhân, tiến sĩ ngày xưa làm quan chức. Do trực tiếp chịu đựng hậu quả của những “chính trị gia” như thế quần chúng Việt Nam phần nào cũng bị nhiễm độc. Trong một thời gian, đặc biệt là tại hải ngoải, không thiếu gì những người không có bất cứ một sự hiểu biết nào hay một kinh nghiệm nào về chính trị thình lình hứng chí nhảy ra thành lập tổ chức đấu tranh. Nếu có một điều cần được nghĩ lại thì đó là chính trị đòi hỏi một cố gắng học hỏi rất quan trọng. Không học thì không biết là điều đúng cho mọi trường hợp nhưng càng đúng cho chính trị.
Di sản lịch sử còn để lại cho trí thúc Việt Nam một tật nguyền nghiêm trọng khác: nguỵ biện. Do tập quán trong hàng nghìn năm phải phục tùng tuyệt đối và không điều kiện các vua chúa, sau đó là Đảng, không những phải chấp hành mà còn phải ca tụng những mệnh lệnh bất nhân bất nghĩa, kẻ sĩ, rồi trí thức, Việt Nam có thể vì những lý do hoàn toàn cá nhân, như quyền lợi hoặc khiếp sợ, chấp nhận những chọn lựa mà trong thâm tâm mình cũng biết là sai rồi biện luận để bào chữa cho chúng như là những chọn lựa đúng. Tập quán tệ hại này ngăn cản mọi thảo luận nghiêm chỉnh.
Một thí dụ điển hình về sự hụt hẫng của trí thức Việt Nam là có rất nhiều người cho rằng con đường đúng nhất để dân chủ hóa đất nước là phục tùng chế độ, hợp tác với nó và cải tiến nó từ bên trong. Lập trường này lôi kéo được đa số trí thức Việt Nam vì sự tiện nghi của nó, nhưng nó sai hoàn toàn. Thay đổi xã hội là một vấn đề đã được nghiên cứu rất đầy đủ và mọi nghiên cứu đều kết luận ngược lại. Muốn thay đổi một chính quyền xấu thì phải phản kháng nó, phản kháng một cách ôn hòa và xây dựng nếu có thể được nhưng phải phản kháng. Phục tùng và hợp tác với một chế độ bạo ngược và tham nhũng chỉ củng cố nó chứ không thay đổi được nó, trái lại người ta sẽ đánh mất chính mình và bị lưu manh hóa. Hàng triệu kẻ sĩ Trung Quốc và Việt Nam trong hàng ngàn năm đã quỳ mọp trước các vua chúa để tâu đạo lý thánh hiền nhưng đã không thay đổi được các chế độ quân chủ mà chỉ khiến chúng trở thành khắc nghiệt hơn với thời gian. Nếu trí thức Việt Nam chịu bỏ ra một chút thời giờ, chỉ một chút thời giờ thôi, để học hỏi và suy nghĩ thì cái lập luận “hợp tác để cải tiến từ bên trong” đã không thể có.
Một thí dụ khác là lập luận cho rằng cứ gác lại những đòi hỏi chính trị và tập trung cố gắng vào phát triển kinh tế (và như vậy nên hợp tác với chính quyền hoặc ít nhất không phản đối) rồi tăng trưởng kinh tế tự nó sẽ đưa đến dân chủ. Lập luận này có vẻ có bài bản vì quả nhiên trong nhiều trường hợp người ta đã thấy dân chủ và phát triển đi song song với nhau và mọi nghiên cứu đều ghi nhân điều này. Nhưng chỉ cần nhìn sâu hơn một chút thôi thì ta cũng thấy đây hoặc là một nguỵ biện hoặc là một ngộ nhận. Dân chủ đưa đến phát triển kinh tế là điều chắc chắn không ai chối cãi và mọi nghiên cứu đều xác nhận, nhưng điều ngược lại không đúng; nói rằng tăng trưởng kinh tế đưa đến dân chủ là lẫn lộn nguyên nhân với hậu quả. Điều chắc chắn là mở cửa kinh tế, và tăng trưởng kinh tế sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành dân chủ, như phần trên của bài này đã trình bày, với điều kiện là có tranh đấu. Nếu không có đấu tranh chính trị đủ mạnh thì cũng không có gì thay đổi cả. Có nhiều triển vọng là những người sử dụng lập luận này không thành thực mà chỉ ngụy biện bởi vì trong hơn hai mươi năm qua mặc dù kinh tế đã tăng trưởng nhiều nhưng chế độ độc tài vẫn không thay đổi và sự kiện này không hề làm họ phiền lòng. Sự lố bịch của lập luận “tăng trưởng kinh tế tự nó đưa đến dân chủ” thể hiện rõ ràng trong trường hợp mà các nhà nghiên cứu chính trị gọi là “tai họa dầu lửa” (the oil curse) các nước có dầu lửa tăng trưởng kinh tế rất nhanh chóng nhưng đều là những nước không dân chủ, đôi khi, như tại Nga và Venezuela, ngân khố dồi dào còn cho phép chính quyền bóp nghẹt dân chủ. Một lần nữa, nếu trí thức Việt Nam chịu bỏ chút thời giờ để đọc những nghiên cứu về dân chủ, lập luận này đã bị gạt bỏ từ lâu rồi.
Các nghiên cứu về dân chủ và tiến trình dân chủ hóa rất nhiều. Điều này dễ hiểu vì dân chủ và dân chủ hóa là những vấn đề quan trọng nhất trên thế giới từ một nửa thế kỷ qua, đồng thời cũng là những vấn đề quyết định tương lai của mỗi quốc gia. Không thể và cũng không cần đọc hết những nghiên cứu này bởi vì tựu chung, qua những cách tiếp cận và lý luận khác nhau, chúng đều đi đến những kết luận giống nhau. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt vì chứng tỏ những kết luận này đáng được coi là chắc chắn. Những kết luận này chúng ta đều có thể cảm nhận hoặc dự đoán, đóng góp của những nghiên cứu này là chúng được thực hiện một cách qui mô và khoa học, dựa trên những dữ kiện cụ thể trong rất nhiều quốc gia thuộc những văn hóa rất khác nhau cho nên những kết luận của chúng không phải chỉ là những suy luận mà phải được coi là những sự thực đàng sau các sự kiện và số liệu.
Các nghiên cứu khác nhau ở mục tiêu và cách tiếp cận. Thí dụ như cuốn Dân chủ và Dân chủ hóa (Democracy and Democratization) của Georg Sorensen (1) nhằm trình bày và giải thích khái niệm dân chủ, những lý do đưa đến những thăng trầm của trào lưu dân chủ trên thế giới và ảnh hưởng của dân chủ trên kinh tế, văn hóa và quan hệ quốc tế. Kết luận là dân chủ đưa đến phát triển về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và cũng rất cần thiết cho hòa bình trên thế giới.
Nghiên cứu nổi tiếng của Seymour Martin Lipset (2) đã cho thấy có một quan hệ mật thiết giữa phát triển và dân chủ, theo đó tăng trưởng kinh tế tuy không phải là điều kiện cần, cũng không phải là điều kiện đủ, để có dân chủ nhưng là một yếu tố rất thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa.
Nghiên cứu rất qui mô của tổ chức Values Survey về sự chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ do Ronald Inglehart và Christian Welzel (3) hướng dẫn đã tổng hợp một khối lượng dữ kiện khổng lồ trên hơn 80 quốc gia để đi tới một kết luận chắc chắn là sự khá giả vật chất luôn luôn có tác dụng đẩy mọi xã hội, trong tất cả mọi nền văn minh, về cùng một hướng là tăng cường tự do cá nhân, kích thích sự hình thành của các tổ chức trong xã hội dân sự, giải phóng quần chúng khỏi sự chi phối của chính quyền và thúc đẩy họ kết hợp với nhau đòi dân chủ.
Một nghiên cứu lớn khác của O’Donnell và Schmitter (4), đặt trọng tâm vào giới cầm quyền, cho thấy là tăng trưởng kinh tế không những chỉ tăng sức mạnh và ảnh hưởng của xã hội dân sự mà còn làm tan vỡ tập đoàn cầm quyền do xung đột giữa khuynh hướng cởi và khuynh hướng thủ cựu. Cả hai phe đều muốn cứu chế độ nhưng sự xung đột của họ đưa tới hậu quả là khiến chế độ bị phân hóa và sụp đổ nhanh hơn. Điều cần được nhấn mạnh ở đây là hiện tượng tự tách hay tự vỡ của đảng cầm quyền là hậu quả của những áp lực đến từ xã hội chứ không phải tự nhiên mà có. Như vậy không thể chờ đợi đảng cộng sản tự vỡ hay tự tách nếu không có chống đối từ bên ngoài.
Cũng có rất nhiều những nghiên cứu, ít quy mô và nặng tính lý luận hơn, về phương thức đấu tranh cho dân chủ. Một thí dụ là cuốn Từ Độc Tài Đến Dân Chủ (From Dictatorship to Democracy)của Gene Sharp đã được Thông Luận dịch ra tiếng Việt. Cũng nên kể cuốn sách rất nên đọc của Larry Diamond, The Spirit of Democracy (5), tóm lược một cách khá đầy đủ những công trình nghiên cứu lớn về cuộc đấu tranh xây dựng dân chủ trên thế giới.
Một người bạn sau khi miệt mài nghiên cứu nhiều tác phẩm về đấu tranh xây dựng dân chủ, kể cả những tác phẩm kể trên, nói với tôi: “Những cuốn sách này không dùng được cho Việt Nam, chúng đều dựa trên tiền đề là đã có sẵn một xã hội dân sự gồm những tổ chức không lệ thuộc nhà nước độc tài, đó không phải là trường hợp của Việt Nam, chúng ta chưa có những tổ chức không lệ thuộc chính quyền, chúng ta chưa có xã hội dân sự”. Quá đúng! Các nhà nghiên cứu này đều cho rằng trong bất cứ một xã hội nào, dù dưới một chế độ độc tài khắc nghiệt như thế nào, cũng vẫn có những tổ chức không lệ thuộc chính quyền. Họ không thể tưởng tượng được là có thể có một quốc gia như Việt Nam.
Chúng ta là một ngoại lệ, và một ngoại lệ quá lớn. Kết hợp thành tổ chức, trừ những liên kết nghề nghiệp nhỏ và có mục tiêu rất cụ thể, luôn luôn do các trí thức chủ xướng. Trí thức Việt Nam không bình thường.
Đến đây chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi “Chế độ cộng sản sẽ còn kéo dài tới bao giờ?”. Nó sẽ còn kéo dài chừng nào Việt Nam vẫn còn là một ngoại lệ, trí thức Việt Nam vẫn không bình thường. Nó có thể phân hóa, ruỗng nát, thậm chí ngã gục trên chính quyền nhưng nó vẫn còn đó nếu không có một sức mạnh nào để kéo thi thể nó đi chỗ khác.
Một cách tích cực ta cũng có thể nói là chế độ cộng sản sẽ nhường chỗ cho một chế độ dân chủ khi trí thức Việt Nam không còn là ngoại lệ, nghĩa là đã ý thức được rằng điều kiện bắt buộc để giành thắng lợi cho dân chủ là phải xây dựng một xã hôi dân sự đúng nghĩa, và cố gắng kết hợp với nhau thành những tổ chức chính trị và phi chính trị không lệ thuộc chính quyền. Cũng như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do kết hợp là quyền mà mọi tập đoàn toàn trị đều muốn cấm tuyệt đối nhưng không cấm được vì không có biên giới rõ rệt giữa những kết hợp tự nhiên bắt buộc phải có trong một sinh hoạt kinh tế thị trường và những kết hợp có tiềm năng tạo áp lực thay đổi chế độ. Ta có thể từng bước mở rộng không gian chính trị ngoài chính quyền. Sở dĩ cho đến nay chúng ta chưa có những tổ chức chỉ vì trí thức Việt Nam chưa nghĩ đến chứ không phải là vì không thể có. Hãy cứ đặt kết hợp và đấu tranh giành quyền tự do kết hợp thành những ưu tiên hàng đầu rồi chúng ta sẽ nhìn thấy phải làm như thế nào để đạt kết quả. Xã hội Việt Nam đã chín muồi cho một cuộc chuyển hóa về dân chủ, trí thức Việt Nam cũng đã tích lũy một vốn kiến thức phong phú và đa dạng rất đầy đủ, chỉ thiếu văn hóa và phản xạ tổ chức, điều mà chúng ta có thể học hỏi không khó, sau đó tình hình có thể thay đổi nhanh chóng. Ngay lúc này điều mà chúng ta có thể làm ngay là yểm trợ trực tiếp hoặc gián tiếp những cố gắng đấu tranh có tổ chức, và nếu vì một lý do nào không thể hưởng ứng các cố gắng đó thì cũng đừng biện luận rằng có thể đấu tranh cho dân chủ mà không cần kết hợp hoặc chưa phải lúc kết hợp. Đấu tranh chính trị bao giờ cũng là đấu tranh có tổ chức và không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả, và chúng ta đã quá chậm trễ.
Một lời sau cùng: trình độ tiến hóa của một dân tộc được đánh giá theo mức độ phát triển của xã hội dân sự, nghĩa là số lượng và phẩm chất của các tổ chức ngoài chính quyền. Về điểm này thì dân tộc ta, nhất là lớp trí thức của chúng ta, dù đã đạt tới một trình độ kiến thức cao hơn cả một số dân tộc đã có dân chủ, vẫn còn quá tụt hậu. Đây là một điều rất không bình thường mà chúng ta phải khắc phục. Phải chấm dứt ngoại lệ Việt Nam để trở thành một dân tộc văn minh, xứng đáng có tự do và dân chủ.
Nguyễn Gia Kiểng
Ghi chú:
Các nghiên cứu nên đọc:
1. Georg Sorensen, Democracy and Democratization.
2. Seymour Martin Lipset, Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy.
3. Inglehart and Welzel, Modernization, Cultural change and Democracy.
4. O’Donnell and Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule.
5. Larry Diamond, The Spirit of Democracy, the Struggle to build Free Societies throughout the Word.
© Thông Luận 2011

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét